Wednesday, November 13, 2013

Hịch Tướng Sĩ 1284 của Đức Trần Hưng Đạo _G/s Trần Trọng Kim dịch


Bài hịch, được viết vào năm 1284, cách đây khoảng 729 năm, dài khoảng 2000 chữ, nhưng tuyệt nhiên không có lấy một chữ "triệt để", không có lấy một chữ "ví dụ điển hình", hay "ví dụ cụ thể".  Cũng không có lấy một chữ "toàn diện", "diện rộng ", "rộng khắp", hay "tại thời điểm". Đã gần 8 thế kỷ trôi qua mà lời hịch đọc như mới vừa được viết hôm qua. Xứng đáng là ngọc quí trong nền văn hóa Việt Nam.

Ta thường nghe chuyện: Kỷ Tín liều thân chết thay cho vua Cao-đế; Do Vu lấy mình đỡ ngọn giáo cho vua Chiêu-vượng; Dư Nhượng  nuốt than để báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước; Kính Đức là một chức quan nhỏ, mà liều thân cứu vua Thái-tông được thoát vòng vây; Kiểu Khanh là một bề tôi ở xa, mà kể tội mắng thằng Lộc Sơn là quân nghịch-tặc. Các bậc trung-thần nghĩa-sĩ ngày xưa, bỏ mình vì nước, đời nào không có? Giả-sử mấy người ấy cũng cứ bo bo theo lối thường tình, chết già ở xó nhà thì làm sao lưu danh sử-sách đến nghìn muôn đời như thế được?

Nay các ngươi vốn dòng vũ-tướng, không hiểu văn-nghĩa, nghe những chuyện cổ-tích ấy, nửa tin nửa ngờ, ta không nói làm gì nữa; ta hãy đem chuyện đời Tống, Nguyên mới rồi mà nói:

Vương Công Kiên là người thế nào? Tỳ-tướng của Vương Công Kiên là Nguyễn Văn Lập lại là người thế nào, mà giữ một thành Điếu-Ngư [1] nhỏ mọn, chống với quân Mông-Kha [2] kể hàng trăm vạn, khiến cho dân sự nhà Tống, đến nay còn đội ơn sâu.

Đường Ngột Ngại là người như thế nào? Tỳ-tướng của Đường ngột Ngại là Xích Tu Tư lại là người thế nào, mà xông vào chỗ lam-chướng xa xôi, đánh được quân Nam-Chiếu trong vài ba tuần, khiến cho quân-trướng đời Nguyên đến nay còn lưu tiếng tốt.

Huống chi ta cùng các ngươi sinh ở đời nhiễu-nhương, gặp phải buổi gian-nan này, trông thấy những ngụy-sứ đi lại rầm-rập ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà xỉ-mắng triều-đình, đem thân dê chó mà bắt-nạt tổ-phụ, lại cậy thế Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc-lụa, ỷ thế Vân-Nam-Vương [3] để vét bạc vàng; của kho có hạn, lòng tham không cùng, khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, giữ sao cho khỏi tai-vạ về sau!

Ta thường tới bữa quên ăn, nữa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm-tức rằng chưa được xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẩu trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng cam lòng.

Nay các ngươi ở cùng ta coi giữ binh-quyền đã lâu ngày, không có áo thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho ăn, quan nhỏ thì ta thăng thưởng, lương ít thì ta tăng cấp, đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa, lúc hoạn-nạn thì cùng nhau sống chết, lúc nhàn-hạ thì cùng nhau vui cười, cách cư-xử so với Vương Công Kiên, Đường Ngột Ngại ngày xưa cũng chẳng kém gì.

Nay các ngươi thấy chủ nhục mà không biết lo, thấy quốc-sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu quân giặc mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ, mà không biết căm; hoặc lấy việc chọi gà làm vui-đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu-khiển, hoặc vui thú ruộng vườn, hoặc quyến-luyến về vợ con, hoặc nghĩ lợi riêng mà quên việc nước, hoặc ham săn-bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát.

Nếu có giặc đến, thì cựa gà trống làm sao đâm thủng được áo-giáp; mẹo cờ-bạc làm sao địch nổi được quân-mưu; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, thân ấy nghìn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bìu con díu, nước này trăm sự nghĩ sao; tiền-của đâu mà mua cho được đầu giặc; chó săn thì sao địch nổi quân thù; chén rượu ngon không làm cho giặc say chết, tiếng hát hay không làm cho giặc điếc tai; bấy giờ chẳng những là thái-ấp của ta không còn, mà bổng-lộc của các ngươi cũng hết; chẳng những gia-quyến của ta bị đuổi, mà vợ con của các ngươi cũng nguy; chẳng những ta chịu nhục bây giờ, mà trăm năm về sau, tiếng xấu hãy còn mãi mãi; mà gia-thanh của các ngươi cũng chẳng khỏi mang tiếng nhục, đến lúc bấy giờ các ngươi dẫu muốn vui-vẻ, phỏng có được hay không?

Nay ta bảo thật các ngươi: nên cẩn-thận như nơi củi lửa, nên giữ-gìn như kẻ húp canh, dạy-bảo quân-sĩ, luyện-tập cung tên, khiến cho người nào cũng có sức khỏe như Bàng Mông và Hậu Nghệ, thì mới có thể dẹp tan được quân giặc, mà lập nên được công-danh.

Chẳng những thái-ấp ta được vững bền, mà các ngươi cũng được hưởng bổng-lộc; chẳng những gia-quyến của ta được yên-ổn, mà các ngươi cũng được vui với vợ con, chẳng những tiên-nhân ta được vẻ-vang, mà các ngươi cũng được phụng-thờ tổ-phụ, trăm năm vinh-hiển; chẳng những một mình ta được sung-sướng, mà các ngươi cũng được lưu-truyền sử sách, nghìn đời thơm-tho; đến bấy giờ các ngươi dầu không vui-vẻ, cũng tự khắc được vui-vẻ.

Nay ta soạn hết các binh-pháp của các nhà danh-gia hợp lại làm một quyển gọi là « Binh-thư yếu-lược ». Nếu các ngươi biết chuyên-tập sách này, theo lời dạy-bảo, thì mới phải đạo thần-tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy-bảo, thì tức là kẻ nghịch-thù.

Bởi cớ sao? Bởi giặc Nguyên cùng ta, là kẻ thù không đội trời chung, thế mà các ngươi cứ điềm-nhiên không nghĩ đến việc báo thù, lại không biết dạy quân-sĩ, khác nào như quay ngọn giáo mà đi theo kẻ thù, giơ tay không mà chịu thua quân giặc, khiến cho sau trận Bình-lỗ[4] mà ta phải chịu tiếng xấu muôn đời, thì còn mặt-mũi nào đứng trong trời đất nữa. Vậy nên ta phải làm ra bài hịch này để cho các ngươi biết bụng ta.

***

Dụ chư tỳ tướng hịch văn, thường được gọi là Hịch Tướng Sĩ, là bài hịch của Trần Hưng Đạo. Dưới đây là nguyên bản và phiên-âm của Trần Trọng Kim trong "Việt Nam Sử Lược" Tập I, Trần Trọng Kim, Nxb Đại Nam, Sài Gòn, 1964. — Trích dẫn từ Hịch tướng sĩ của Wikipedia, Bách khoa Toàn thư Mở.

http://vi.wikisource.org/wiki/H%E1%BB%8Bch_t%C6%B0%E1%BB%9Bng_s%C4%A9_(Tr%E1%BA%A7n_Tr%E1%BB%8Dng_Kim_d%E1%BB%8Bch)

No comments:

Post a Comment