Thursday, November 28, 2013

Non nước Ninh Hòa: Biển _T/g Vinh Hồ

Bãi biển Dốc Lết   -  Photo: Dương Thi-Mai
Phần 1:

Xứ Ninh tức Ninh Hòa xưa có tên là phủ Thái Khang chạy dài từ Đèo Cả đến Ngọc Diêm, bao gồm 2 huyện Vạn Ninh, Ninh Hòa và 1 phần huyện Khánh Dương ngày nay.


I. BIỂN

Biển Khánh Hòa bắt đầu từ Vũng Rô đến vịnh Cam Ranh dài khoảng 120km gồm: Vũng Rô và 4 vịnh: Vân Phong, Nha Phu, Cù Huân (từ chân đèo Rù Rì đến chân núi Cầu Hùm), Cam Ranh.

 Biển Xứ Ninh gồm Vũng Rô và 2 vịnh Vân Phong, Nha Phu. Trong các vịnh có vũng và cửa biển.

1.VŨNG RÔ: Ảnh:  Lê Châu Y-Mẫn

Từ Tuy Hòa đổ Đèo Cả sẽ thấy ngay một vùng biển xanh sâu thăm thẳm, mặt nước phẳng lặng, xa xa là dãy núi Varella từ Phú Yên chạy xuống phía Nam đến mũi La ôm lấy một nửa Vũng Rô.

Ngoài khơi bãi biển Đại Lãnh có Hòn Nưa.

2. VỊNH VÂN PHONG:

Rộng lớn, kín đáo, tiếp giáp với các khu vực quanh biển như:

      Suối Bùn, Ninh Thọ, Tiên Mao, Diêm Điền, Ninh Lâm thuộc Tu Bông;
      Phú Hội, Quảng Hội, Tân Mỹ, Hiền Lương, Xuân Tự thuộc Vạn Ninh;
      Ninh Thọ, Ninh Diêm, Ninh Hải, Ninh Thủy, Ninh Phước, Ninh Vân thuộc Ninh Hòa.

Bán đảo Bàn Sơn (còn gọi là bán đảo Hòn Gốm) dài gần 30km từ đèo Cổ Mã chạy theo hướng Đông Nam là cánh cửa che gió Bấc. Bán đảo Phước Hà Sơn dài trên 20km cũng chạy theo hướng trên là cánh cửa che gió Nam. Tàu bè gặp bão thường ghé vào vịnh để đụt.

             Vịnh Vân Phong có 4 vũng:

                                       Vũng Trâu Nằm gần Tu Bông,
                                       Vũng Bến Gội,
                                       Vũng Hòn Khói và
                                       Vũng Cây Bàng ở cuối dãy Phước Hà Sơn.

              Vịnh Vân Phong có 2 cửa biển:
                                                              Cửa Vạn và
                                                              Cửa Giã.

Cửa Vạn, người Pháp gọi là Port Dayot, ở Đầm Môn dưới chân bán đảo Bàn Sơn, trước cửa có đảo Hòn Lớn tên chữ là hòn Đại Dư đứng che rất kín đáo để tàu bè vào ẩn núp bão tố. Vào ra cửa có 2 lạch nằm giữa Hòn Lớn và Bàn Sơn là lạch Cửa Bé ở phía Đông và lạch Cửa Lớn (hay lạch Cổ Cò) ở phía Tây.

Cửa Giã nằm tại Vạn Giã, nơi sông Hậu chảy ra, thuyền bè buôn bán ra vào tấp nập, cá tôm từ các vũng đổ dồn về, dân cư đông đúc, góp phần làm cho Vạn Ninh thịnh vượng.

         Tên Vạn Giã là do tên của 2 cửa biển ghép lại.

3. VỊNH NHA PHU (còn gọi là Đầm Nha Phu):

Bề ngang gần 6 km, bề dài vài chục km, chỉ bằng 1 phần tư vịnh Vân Phong, có cửa Hà Liên, tức là cửa sông Dinh, ghe thuyền buôn bán với Ninh Hòa ra vào cửa này. Đứng trên đèo Rọ Tượng nhìn về hướng Đông sẽ thấy hầu như trọn vẹn khu vực vịnh chạy dọc theo bán đảo Phước Hà Sơn (dãy núi Hòn Hèo) đến tận Lương Sơn.

II. BỜ BIỂN

Bờ biển Khánh Hòa hơi cong lưỡi liềm, phần lưỡi đưa ra biển.

Sách Non Nước Khánh Hòa viết:

"Trong các tỉnh miền Trung không mấy nơi có được một bờ biển đẹp như bờ biển Khánh Hòa. Cong queo lồi lõm đến non 200 cây số từ Vũng Rô vào đến hải cảng Cam Ranh, bất cứ chỗ nào bờ biển cũng hiến cho du khách những bức tranh thiên nhiên ngắm mãi không chán."

        Bờ biển xứ Ninh chạy dài từ Vũng Rô đến Ngọc Diêm.

Nhờ dãy núi Varella và 2 bán đảo Bàn Sơn, Phước Hà Sơn ăn ra biển Đông làm cho bờ biển xứ Ninh đẹp như một bức tranh sơn thủy.

Dãy núi Varella từ địa phận tỉnh Phú Yên chạy vòng xuống phía Nam ôm Vũng Rô vào lòng khiến cho mặt nước thường được yên tĩnh. Bờ biển Vũng Rô nằm sát chân núi Đèo Cả lởm chởm đá, mặt nước nhuộm một màu xanh thẩm. Chính Đèo Cả và rặng núi Varella đã tạo ra nét đẹp hoang sơ hùng vĩ cũa Vũng Rô:

                                      Sơn xuyên phong cảnh là đây
                                  Non cao bia tạc đá xây nghìn trùng

Qua khỏi đèo Cả, một làng đánh cá nằm kề bên trái Quốc lộ 1, bên phải là ga Đại Lãnh với những cây bàng lâu năm. Tiếp đến là bờ biển Đại Lãnh chạy dài đến đèo Cổ Mã và mũi Hòn Gion. Bãi biển Đại Lãnh cách Thị trấn Ninh Hòa khoảng 50km, dựa vào núi cao, xa xa ngoài khơi nhấp nhô Hòn Nưa với những vách đá dựng đứng. Bãi dài gần 1 km hơi lõm, cát trắng phau, trên bờ một rặng dương xanh biếc. Bãi biển Đại Lãnh rất cạn, thuận tiện cho du khách tắm biển. Thời vua Minh Mạng, 1836, Đại Lãnh được chạm vào Tuyên đỉnh, một trong cửu đỉnh để trước sân Thế Miếu. Thời vua Tự Đức, 1853, Đại Lãnh được liệt vào Tự Điển. Ngày nay Trung tâm Du lịch Khánh Hòa đã biến Đại Lãnh thành khu du lịch giải trí gồm khách sạn, nhà hàng.

  Đại Lãnh là một thắng cảnh của Việt Nam xưa và nay.

Rời Đại Lãnh với bờ cát trắng mịn, du khách sẽ đến bờ biển Cổ Mã lởm chởm đá. Sát bờ có một hòn đảo nhỏ đầy đá tên là Hòn Gầm.

Qua khỏi đèo Cổ Mã bờ biển xa dần Quốc lộ1 và thiết lộ.

Từ chân đèo Cổ Mã tại Ninh Mã, một dãi cát trắng chạy thẳng ra biển theo hướng Đông Nam tạo thành bán đảo Bàn Sơn dài độ 30 km trong nhỏ, ngoài to, hình thù giống như chiếc chìa khóa sửa xe đạp mà răng day xuống hòn Lớn, cán hướng lên đèo Cổ Mã. Hai răng chìa khóa ôm lấy cửa Vạn mà hòn Đại Dư tức hòn Lớn đứng trước cửa làm bức bình phong.

Làng Tuần Lễ nằm trên bãi cát trắng cách Ninh Mã độ 5 km, thuộc xã Vạn Thọ, huyện Vạn Ninh, từ đó các đụn cát trắng và các đồi đá thấp nối tiếp chạy dài đến Đầm Môn, Hòn Gầm, thuộc xã Vạn Thạnh. Từ Ninh Mã đến mũi Hòn Ngang dài độ
13 km, bờ biển thẳng: khởi đầu là một dãy đồi cát thấp, qua khỏi đồi cát thấp sẽ tới một dãy đồi đá thấp, tiếp theo là một dãy đồi cát cao che khuất mặt Đông của làng Vĩnh Giật.

Các dãy đồi đá và đồi cát tiếp nối chạy dài này là một bức trường thành che gió mùa Tây Nam cho vùng Đại Lãnh, Vũng Rô. Trên đoạn này có một cái truông gọi là truông Chàm có nhiều cây tràm mọc, còn có tên là bãi Võ, cát ở đây khác với cát ở các nơi, vì khi bước lên có tiếng kêu kít kít. Dân chài cho biết nơi đây xưa kia là dãy đá ngầm, rất nhiều ghe thuyền bị chìm đã nằm chồng chất lên nhau tạo thành một bãi chướng ngại vật khiến cho cát bị gió đánh từ xa bay vào tụ lại lâu ngày thành bãi Võ này.

Gió mùa Đông Bắc từ biển thổi vào qua mũi Varella (phía Đông Vũng Rô) dồn xuống đồi cát Vĩnh Giật và dãy núi hòn Lớn, vì đồi cát và núi này cao nên gió bị chận lại, dồn ép và thổi bật qua hòn Gầm, qua truông Tràm và vào thẳng Tu Bông thành một luồng gió mạnh và cuốn xoáy. Chính ngọn gió này đã làm cho Tu Bông nổi tiếng "Gió Tu Bông". Ở Tu Bông vào mùa gió, đi trên bờ sẽ bị đẩy xuống ruộng. Xe đạp chạy trên Quốc lộ 1 phải dẫn bộ. Tu Bông còn được gọi là "xứ gió mưa mùa". Hàng năm cứ đến tháng Chín, tháng Mười Âm lịch là Tu Bông mưa dầm mưa dề có khi kéo dài cả tháng, làm cho mùa màng thường bị thất thu vì lụt và gió:

                                        Ông tha mà bà khổng tha
                               Trời cho cây lụt hăm ba tháng mười
Đồi cát Vĩnh Giật là cánh cửa chắn gió cho vùng Vạn Giã do đó việc khai thác đồi cát để kinh doanh là điều không nên, vì gió mùa Đông Bắc sẽ tràn vào vùng Vạn Giã thì sự tai hại sẽ như thế nào?

Đi khỏi mũi Hòn Ngang hơn 3 km thì núi nổi lên làm cho bờ biển trở nên gập ghềnh khúc khuỷu. Từ Ninh Mã đến Vĩnh Giật, (hay còn gọi là Vĩnh Yên) là cán chìa khóa, Từ Vĩnh Giật đến Khải Lương là răng chìa khóa, trong khoảng răng chìa khóa có nhiều mũi đá như mũi Hòn Ngang, mũi Đá Chôn, mũi Đồi, mũi Hòn Chò. Mũi Cột Buồm ở về phía Đông, mũi Gành nằm về phía Nam cuối bán đảo, mũi Nai Ba Kèn nằm ở phía Nam cửa Vạn, trong khi mũi Cổ Cò, mủi Đá Sơn nằm ở phía Tây bán đảo.

Khi rời mũi Hòn Ngang có một bãi cát dài độ 5 km gọi là bãi Cát Thắm, tiếp theo là một dãy núi cao 201 m, tại đây có mũi Đá Chôn, mũi Đồi như đã nói ở trên, phía ngoài có đảo Đồi Mồi. Men theo hết chân núi sẽ đến đầm Bà Gia. Hòn Gầm (gần đèo Cổ Mã) cách đầm Bà Gia chưa tới 20 km, nhưng nếu biển động thì ghe bàu phải đi mất bảy ngày:

                                       Hòn Gầm nghe sóng bổ vang
                                    Đi bảy ngày đàng mới đến Bà Gia
Tại Hòn Gầm vào mùa gió Tây Nam, người địa phương thường đến dựng lều để bắt cá, tôm, khi hết mùa gió là họ bỏ đi.

Trên đường đi vào các ghe bàu sẽ qua các đảo Hòn Khô Đen, Hòn Khô Trắng, đảo Hòn Đen, và đảo Trâu Nằm:

                                     Trâu ai cắc cớ chẳng ăn đồng
                                   Lúc ngúc ra nằm giữa biển Đông
                                   Sóng trắng lô nhô xao trước mặt
                                  Rong xanh tấp tểnh đóng bên hông
                                     (Ông Kiều, Vịnh Hòn Trâu Nằm)


          VINH HỒ
(Orlando, Tháng 8/2004)
http://www.ninh-hoa.com/Dia_Ly-XuNinh-BienVaHaiDao-1.htm

***
Non nước Ninh Hòa: Biển _T/g Vinh Hồ

Phần 2:
 

Từ đảo Trâu Nằm qua 3 hòn đảo ngầm nữa là đến mũi Gành.

Từ mũi Hòn Chò đến mũi Gành đều là núi có ngọn cao 317 m.

    Đứng tại mũi Gành là điểm cuối của bán đảo Bàn Sơn, nhìn thấy mũi Cỏ bên Hòn Lớn (Ninh Đảo) ngăn cách bởi lạch Cửa Bé. Men theo lạch này, giống như một kênh đào khá rộng không sóng gió, nước lặng như tờ, trong xanh, đáy sâu vừa đủ cho một chiếc tuần duyên hạm, 2 bên là những mõm đá hay sườn núi, lạch dài độ 8 km, tàu chạy chừng 20 phút sẽ thấy một bãi cát trắng đẹp, bên trong là những mái nhà tranh ẩn dưới bóng dừa, du khách có thể nằm phơi mình trên cát, ngồi dưới gốc dừa hít không khí trong lành, uống một trái dừa tươi, hay ngâm mình trong nước biển, và chỉ cần lặn sâu xuống chừng ba, bốn mét sẽ nhặt được những con hào to bằng cái chén để làm mồi cho những xị rượu đế địa phương. Đó là Đầm Môn Hạ.

    Đi dọc theo bãi, vào sâu bên trong, khi qua khỏi một cái mõm đá nhỏ sẽ gặp một bãi khác đẹp và thơ mộng không kém, đó là Đầm Môn Thượng.

Vì nằm ở phần trong cùng của đầm và ở về phía Bắc nên tàu lớn không thể vào được. Từ Đầm Môn Hạ dong tàu về phải để ra biển sẽ gặp những túp nhà tranh bên tả ngạn, sinh hoạt có vẻ nhộn nhịp hơn, đó là Bãi Giếng, nơi đây có thể đào được giếng nước ngọt uống được, người địa phương nói hơi đớt, họ phát âm chữ cá thành chữ ké.

Đầm hình tròn, lên thuyền qua đảo hòn Ông nằm ở giữa đầm, tới vũng Nai, phía ngoài có đảo Hòn Đỏ, tiến tới Vũng Ke, phía ngoài có đảo Hòn Săng, nhìn qua bên kia vẫn là đảo Hòn Lớn, cách quãng ở giữa là lạch Cổ Cò, tiến tới nữa là cửa Lớn có mũi Cổ Cò, trước mặt là vịnh Bến Gội. 
Theo tác giả Phan Hữu Niệm, khi rời Bãi Giếng ra tới cửa Vạn, rẽ trái đi về phía Đông dọc theo triền núi sẽ gặp một giàn lưới đăng chuyên bắt cá thu, cá ngừ đủ loại. Đây không phải hòn đảo mà chỉ là một mõm núi nhô ra biển nhưng lại có tên là hòn Na hay lưới đăng hòn Na. 

Sau Tết Nguyên Đán dân lưới đăng bắt đầu xuống lưới. Lưới đặt tại mõm đá của sườn núi nhô ra biển, thẳng góc với sườn núi kéo dài ra biển chừng 100 m, vòng lưới lại 90º về phía trong vịnh, chạy song song với sườn núi chừng bảy, tám chục thước, rồi vòng lại 90º chạy thẳng vào sườn núi, làm thành một lối đi cho cá giữa triền núi và thành lưới. Khi lưới gần đến ranh lưới đầu tiên họ dừng lại cách ranh lưới chừng bốn, năm thước để làm thành cái cửa đi vào của giàn lưới đăng. Lưới đăng được giăng từ mặt nước bằng phao đến tận đáy biển bằng những chiếc neo lớn giữ cho lưới không bị trôi giạt vì sóng gió. Cá thu và cá ngừ thường vào bờ kiếm ăn, khi đi vào cứ đua nhau bất kể phương hướng, nhưng khi trở ra biển cả thì cứ dựa theo triền núi mà đi. Khi ra đến mõm đá gặp lưới cũng cứ dựa theo lưới mà đi, thế là lọt vào cửa lưới và cứ chạy vòng vòng đợi người ta bắt.


 Thời gian kéo lưới bắt cá khoảng chừng 1 giờ, có khi 2, hay 3 giờ, tùy theo số lượng cá vào lưới, nếu thấy mẻ lưới đủ sở hụi thì họ kéo lưới. Thường có đặt người nằm trên mặt nước bằng phao để quan sát lượng cá vào lưới. Khi quyết định kéo lưới, họ đóng cửa lưới lại rồi kéo lưới từ từ cho lưới khép chặt lại, đặt 2 chiếc ghe nằm ở 2 bên, kéo lưới lên 2 ghe, cuối cùng nâng đáy lưới, bắt cá lên ghe. Những con cá đao to với lưỡi cưa dài trước mõm phải giết chết trước khi bỏ vào khoang ghe. Cá lưới đăng ở đây gồm cá thu, cá chù, cá ngừ, cá chấm, cá bông, cá sọc dưa gan, cá đao, là những loại cá mình tròn. Thị trường tiêu thụ phần lớn là Nha Trang, số còn lại đưa vào Hòn Khói để chở đi Ninh Hòa, số ít đưa ra Vạn Giã, Tu Bông. Cá vào đến chợ Cồn, chợ Cầu Bóng, chợ Chụt, chợ Bình Tân, chợ Phường Củi vào khoảng 3 giờ sáng. Sau một ngày đánh bắt các ghe được phân phối cá vào khoảng chiều tối, từ lưới đăng Hòn Na lái ghe về Nha Trang đi mất chừng 6 hoặc 7 giờ.

Trong vịnh Vân Phong có nhiều đảo nhỏ như hòn Mao, hòn Một, hòn Bịp (Điệp Sơn), hòn Vung, hòn Gà, hòn Đụng, hòn Mài, hòn Me.

Men theo bờ biển phía Nam Hòn Lớn sẽ gặp mũi Hòn Đen, ngoài khơi có đảo Hòn Thâm, rồi mũi Gành Rồng, đi một khoảng xa đến bãi Giầm, ngoài xa có đảo hòn Tai.

Đến đây, du khách xem như đã đi dạo một vòng khắp vịnh Vân Phong với nhiều cảnh trí kỳ thú lạ lùng. Có những cái hang ngoảnh mặt ra biển, từng làn sóng đưa bọt nước trắng xóa tràn lên những mặt đá ngày này qua tháng nọ làm cho những mặt đá phẳng lì. Nằm trong những hang đá này nhìn ra biển lòng cảm thấy chơi vơi nhẹ nhàng và không còn muốn trở về với cảnh bận rộn căng thẳng ở đất liền nữa. Bây giờ thì không biết như thế nào, nhưng khoảng 40 năm về trước, những con sơn dương rất dạn dĩ sẽ đến bên cạnh các bạn để được vuốt ve mà không hề biết sợ sệt là gì. Sở dĩ giống vật này không biết sợ người là vì dân đảo bao đời sống bằng nghề chài lưới có tín ngưỡng rất mạnh, họ tin rằng các Đấng Thần Linh cho họ bắt cá dưới biển để ăn, còn những con vật trên đảo là của các Ngài nuôi để làm cảnh, nên không ai được sát hại, nếu ai xúc phạm thì sẽ bị trừng phạt nặng nề. 

   Từ ngoài vịnh nhìn vào bờ, đây Tu Bông, kia Quãng Hội, nọ Vạn Giã, bờ biển bằng phẳng, những vườn dừa ngã bóng in trên bờ cát trắng phau. 

Đây là bờ biển phía Tây của Vịnh Vân Phong bắt đầu từ vũng Trâu Nằm gần Ninh Mã, Tu Bông, Hội Khánh đến cuối dãy Phước Hà Sơn của Ninh Hòa. Đoạn này chia làm 2 phần:

   Từ vũng Trâu Nằm đến vũng Hòn Khói bờ biển thấp hình cong lưỡi liềm toàn cát trắng.

Tại Xuân Tự có một thắng cảnh mới được tạo lập, đó là Điện Nam Hải Quan Âm và Chùa Giác Hải:

Ai ngang qua núi Phổ Đà
Thăm chùa Giác Hải viếng tòa Quan Âm

(Thanh Trúc)

Trên bờ biển Xuân Tự có những ngọn núi thấp có tên: núi Phổ Đà, núi Quán, núi Chùa, núi Ông Sư. Năm 1956, Thượng tọa Viên Giác nhận thấy nơi đây thủy tú sơn minh, lại có nhiều cơ duyên nên ngài đã chọn núi Phổ Đà làm địa điểm để cất chùa xây điện. Sau lưng chùa và 2 bên tả hữu, núi mây bao bọc tạo thành một bức trường thành thiên nhiên hùng vĩ, trước mặt chùa biển rộng vòng lại như một cái hồ bán nguyệt, xa xa bên kia bờ biển về hướng Nam vọng lại mặt chùa có Hòn Hèo vươn cao làm án ngự, bên cạnh có núi Chín Cụm (Cửu Liên Phong), bên tả có hòn Đò ngó lại in hình lưỡng long triều nguyệt bái yết Phật Đài. Chính chùa và điện này đã làm cho địa danh Xuân Tự nổi tiếng, có nhiều bài thơ cảm tác còn lưu lại, xin trích 3 bài:

              Xướng: 

Phổ Đà có phải cõi Tây Thiên
Tượng núi Quán Âm phép diễm truyền 
Đá hãy gật đầu si tánh Phật
Hạc còn quỳ gối rước hài tiên
Trông mây Biển Giác nên câu kệ
Mượn nước Sông Nha rửa tấm phiền
Là giống hữu tình đâu chẳng gặp
Tu hành e cũng có căn duyên

(Đào Chi Tiên)

                 Họa:

Chính đây, phải lắm, cảnh Tây Thiên
Thắng tích danh lam tự cổ truyền
Đế Thích hằng lai chiêm Thọ Phật
Quán Âm thường hiện độ Na Tiên
Xưa nay Biển Giác ly câu kệ
Sẵn nước Ma Ha chẳng não phiền
Thanh tịnh một mầu, đâu dễ gặp
Ngậm vành trăng sáng cũng tùy duyên

(Viên Giác)

Thi sĩ Mai Phong có làm một bài thơ chữ Hán và tự dịch ra quốc ngữ:
Viếng cảnh Xuân Sơn, yết Phật Đài
Xa lìa bể khổ sạch trần ai
Núi mây ba phía êm đềm nhỉ
Thiền viện mấy tòa đẹp đẽ thay!
Nói Pháp giảng kinh luôn sớm tối
Hồi chuông gầm sóng suốt đêm ngày
Khen ai khéo chọn nơi tu dưỡng
Độ được mình, thêm độ được người.


Từ Xuân Tự đi vào bờ biển vẫn đẹp như tranh:
Cửa Đò Hòn Khói xa xăm
Kinh ngoài Hòn Đỏ, kinh trong Bãi Trầy

Hòn Khói như ngón tay nhô ra hướng Bắc che lấy vũng Hòn Khói, ngoài xa Hòn Ninh Đảo (tức hòn Lớn) vẫn án ngữ phía Đông, nhờ thế mà tàu thuyền vào vũng được bảo đảm.

Hòn Khói như một thị trấn nhỏ ở miền biển cách huyện lỵ Ninh Hòa 16 km đường bộ, cách Vạn Giã 50 km đường biển. Trước 1930 Hòn Khói là Tổng Hà Ngoại trực thuộc huyện Vạn Ninh gồm các làng: Đông Hà (Rớ), Đông Hòa (Xóm Bà Đỏi), Đông Hải (mũi Hòn Khói nằm tại làng này), Đông Cát (Xóm Cát), Bình Tây (Xóm Đò), Thạnh Danh, Phú Thọ và Bá Hà (Cồn Cạn). Từ Hòn Khói đi Vạn Ninh có ghe đò nằm tại bến đò Bình Tây.

  Ngày nay, Hòn Khói thuộc huyện Ninh Hòa gồm 4 xã. 

Photo: Trương Tiểu Dung

Photo: Trương Tiểu Dung

         Xã Ninh Hải gồm các thôn: 
Đông Hà, Đông Hòa, Đông Hải, Đông Cát, Bình Tây. 

         Xã Ninh Diêm gồm các thôn: 
Thạnh Danh, Phú Thọ, Chánh Thanh, Chánh Bình. 

         Xã Ninh Thủy gồm các thôn: 
Bá Hà, Ngân Hà, Thủy Đầm. 

        Xã Ninh Phước gồm các thôn: 
Ninh Tịnh, Ninh Yển, Mỹ Giang, Đầm Vân.


Dân Hòn Khói đa số làm ruộng muối. Dù 3 mặt là biển và sông ngòi nước mặn, nhưng số người làm nghề đánh cá lại ít hơn. Nghề chài lưới ở đây làm chơi ăn thiệt. Gặp ngày nước cạn xách giỏ dạo quanh mép nước chừng 30 phút là có 1 giỏ đầy cua, ghẹ, tôm sò, hay chèo xuồng ra lạch 2 người lặn chừng 1 giờ là có một rổ ốc nhảy, ốc ngựa. Còn câu cá Suốt thì không cần mồi, cứ cách 1 tấc cột 1 lưỡi câu, một cần câu mười lưỡi thả xuống, mỗi lần giật lên được một vài con, cá bị vướn vào lưỡi câu.

Từ trong Cầu Treo dọc theo 2 bên sông Đò mé làng Đông Hải, nằm rải rác những ụ muối trắng tinh, cứ đến Rằm, Mùng Một nước triều lên, người ta đưa ghe vào chở muối ra Dépot bán. Muối tại Dépot như một hòn núi muối. Dân Hòn Khói nhờ ăn cá tươi, hít thở ngọn gió biển trong lành, đi bộ trên cát và lao động ngoài nắng gió nên đàn ông đàn bà người nào cũng rắn chắc vạm vỡ, có tuổi thọ rất cao. Như Bà Cụ Thân Mẫu Anh Đoàn Thảo quê làng Bình Tây vừa tạ thế năm nay thọ 101 tuổi.

Thôn Đông Hải thuộc trung tâm Hòn Khói, dân cư đông đúc, nhà ngói san sát. Nơi đây, kho muối của chính phủ với những ngọn núi muối cao ngất trời, vì để lâu ngày nên kết lại rắn như đá, muốn lấy phải dùng xà beng. Có một con sông cụt như một cái hồ lớn khiến du khách phải băng qua một con đường độc đạo và một cái cầu, hai bên là nước mặn mới tới được Hòn Khói. Bên kia sông, trên đỉnh đồi về phía Bắc, một tòa nhà lầu bề thế, kiến trúc tân thời do Pháp xây dựng gọi là Douanes et Régies de Hone- Coché (Sở Thương Chánh Hòn Khói).

Sau này hoang phế trở thành nơi hò hẹn của những cặp tình nhân, được gọi tên là Lâu Đài Tình Ái hay Lầu Ông Hoàng. Tàu ngoại quốc tới mua muối phải đậu ngoài khơi để các ghe chở muối từ kho ra bốc lên tàu, mỗi lần như thế có hàng trăm chiếc ra vào cửa sông tấp nập và tại kho mấy trăm nhân công làm việc cật lực.

Photo:  Dương Thị Mai

Hòn Khói có Dốc Lết cách huyện lỵ Ninh Hòa  Photo:  Dương Thị Maiđộ 12 km, là một bãi biển đẹp nổi tiếng, nằm trên một dãi cát trắng tinh như đường cát số 1, cát hột nhỏ rức mà người ta thường lấy đem về bỏ vào lư hương. Gọi Dốc Lết vì muốn qua bãi tắm phải vượt những đụn cát cao lớn chắn ngang, mỗi bước đi, bàn chân lún sâu xuống cát tới nửa ống chân, đi chừng một vài đoạn là phải lết, phải bò... Nơi đây không khí thật sự trong lành vì không có nhà cửa xe cộ, gió biển lồng lộng, những đụn cát trắng tinh sáng chiều di chuyển và biến đổi hình dạng để các nhiếp ảnh gia săn tìm những bức ảnh đẹp, trừu tượng, lãng mạn. Đụn cát này dài độ 10km, chạy từ làng Đông Hải đến nhà máy xi măng Hòn Khói thuộc xã Ninh Thủy.

Tác giả Trần Bình Tây viết: "Bờ biển Nha Trang đã đẹp mà bãi biển Dốc Lết còn có phần đẹp hơn."

  Ngày nay Khu Du lịch Dốc Lết được xây dựng rất quy mô với khách sạn, nhà hàng hải sản, trong tương lai có thể nối dài đến bãi Cây Bàng ra tận mũi Bàn Thang.

    Từ Hòn Khói đi vào bờ biển bằng phẳng, thấp, vì trải qua một bãi cát dài. Vào đến thôn Mỹ Lương sẽ gặp mũi Gành, suối Nước Ngọt, miếu Cỏ May và suối Nhàu.

    Từ đó trở vào Nam bờ biển thường cao, dốc, nhiều nơi ghềnh đá chênh vênh, dưới chân ghềnh có nhiều hang hố, có một số hang hố ăn sâu vào lòng núi làm ngõ ra vào cho những thạch thất, tức động đá ở bên trong, bởi vì núi Hòn Hèo nằm sát biển.

Du khách sẽ đi qua đèo Quít, rồi đến suối Vông, suối Chình, suối Tra, qua thôn Ninh Yển đến suối Cái. Ngoài biển có các đảo nhỏ như hòn Mỹ Giang, hòn Hỏa, hòn Đỏ, hòn Cứt Chim, hòn Sẹo.

    Từ suối Cái trở đi, bờ biển hơi bằng phẳng vì cánh đồng thôn Ninh Tịnh nằm sát biển, nơi đây có bãi Cây Bàng, suối Mỏ Cài, suối Ngang. Từ đó chân núi Hòn Hèo giáp biển nên bờ biển lại lởm chởm đá có nhiều mũi như mũi Bàn Thang, mũi Cỏ, mũi Cây Sung, mũi Bãi Chướng, mũi Bắt Tay. Mũi Hòn Thị là cùng điểm của dãy Phước Hà Sơn. Ngoài biển có các đảo: hòn Chà Là, hòn Hổ, hòn Rồng, hòn Đụng Chóp Vung, hòn Bạc.

Không ghé thì lại chạy ngay
Đi hết nửa ngày mũi Cỏ, Cây Sung
Chà Là, Hổ, Đụng Chóp Vung
Kinh ngoài Hòn Bạc kinh trong Ninh Hòa

Đứng tại hòn Bạc thấy Nha Trang, nhưng nếu quay mũi ghe về phía tay phải sẽ vào vịnh Nha Phu, mặt biển yên tĩnh. Giống như bên vịnh Vân Phong, vịnh Nha Phu núi cũng chạy sát biển, bờ biển cao, có nơi thẳng, ít chỗ lồi lõm như bên Vân Phong, nhưng dưới chân ghềnh cũng có nhiều hang hố ăn thông vào các thạch động ở bên trong núi Hòn Hèo. Trong vịnh có nhiều đảo như hòn Thị (lớn nhất), hòn Trồng, hòn Rêu, hòn Nứa, hòn Cóc, hòn Lao.

Bờ biển phía Đông vịnh Nha Phu cao nhưng bờ biển phía Tây từ cửa Hà Liên vào Ngọc Diêm, Rù Rỳ thấp vì núi chạy xa dần biển, tuy nhiên thỉnh thoảng núi đột khởi chạy thọc ra biển khiến bờ biển vụt chênh vênh làm thay đổi hình thể và sắc thái bờ biển, như hòn Hoài ở Ninh Hà, hòn Giốc Thơ ở Tân Thủy (đèo Rọ Tượng).

Vịnh Nha Phu giáp vũng Lương Sơn thuộc huyện Vĩnh Xương, nếu tiếp tục đi vòng qua chân núi Hòn Khô đến mũi Khe Gà sẽ gặp bờ biển Đồng Đế với thôn Ba Làng (thành lập năm 1955) thuộc xã Vĩnh Hải. Rời Ba Làng đến Hòn Chồng, một thắng cảnh của thành phố biển Nha Trang.

Vinh Ho
Orlando 2004



***

Phần 3:
 

III. HẢI ĐẢO

Dọc theo bờ biển Khánh Hòa, có tất cả 71 hòn đảo lớn nhỏ.


Riêng tại xứ Ninh có những hòn đảo chính như sau:

      Trong VŨNG RÔ có mũi La

      Ngoài khơi bãi biển 
      Đại Lãnh có hòn Nưa

      Trong VỊNH VÂN PHONG
      có:

               Hòn Mao, với bốn
                hòn đảo nhỏ nối
                liền nhau. 

               Hòn Trí, hòn Một,
               hòn Vung, hòn Gà,
               hòn Đụng, hòn Me

               Ra cửa Lớn (Cổ Cò) có hòn Mai, hòn Săng, hòn Ông, hòn Đen, hòn Tai. 

               Hòn Điệp Sơn còn gọi là hòn Bịp, nằm về hướng Đông Bắc của Thị trấn
                Vạn Giã, cách bờ độ 10km, giống hình con nòng nọc đuôi hướng về Nam,
                trên đỉnh lởm chởm những dãy đá trắng. Dưới chân núi là làng Điệp Sơn
                thuộc xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, với dăm ba chục nóc nhà, dân
                chúng căn bản làm rẫy và đánh cá.

          Hòn Bịp là một đảo nhỏ đi bộ chừng 1 ngày là giáp, cây cối lúp xúp, xung
          quanh có nhiều bãi cát, mấy khe đá có nước ngọt quanh năm.

Theo tác giả Trần Bình Tây, dân đảo có nước da ngâm đen, tai tái, có đôi mắt trắng xác, ít nói, không rõ đã tới đảo vào thời gian nào. Người ta đoán họ là dân chài từ Indonesia, Singapore, hay Mã Lai bị bão trôi tắp vào đảo này có lẽ đâu từ thế kỷ 18, 19 gì đó. Người Vạn Ninh ở đất liền gọi họ là "Dân Đàng Hạ".

Đầu thập niên 30, quan huyện địa phương gọi tất cả dân đảo này vào ghi danh lập Sổ Bộ Đinh của làng. Quan huyện hỏi đàn ông trước đàn bà sau, nhưng hỏi tên thì có mà hỏi họ thì không, chẳng một ai biết mình là họ gì. Cuối cùng quan huyện bảo: "Thôi thì đàn ông lấy họ Đinh, còn đàn bà thì lấy họ Trần vậy."

Còn tác giả Nguyễn Đình Tư thì viết, tại vùng Đầm Môn Hạ, thuộc xã Vạn Thạnh, quận Vạn Ninh, nằm trên bán đảo Bản Sơn trong vịnh Vân Phong, có một giống người thiểu số mà dân địa phương gọi là người Hạ để phân biệt với người Thượng như sự giải thích của nhiều người. Sự thật người Hạ tức là người Hạ Châu một giống người từ bán đảo Mã Lai vượt biển tới đây làm nghề đánh cá rồi lưu cư ở đây cho tới bây giờ. Ngày nay họ đã Việt hóa hoàn toàn, duy chỉ còn 2 đặc điểm: một là không khiêng gánh mà đội trên đầu, hai là hễ sinh con trai thì đặt họ Đinh, sinh con gái thì đặt họ Trần.

Ngày nay dân làng Điệp Sơn có chừng vài trăm nhân khẩu, mọi sinh hoạt đều giống như người trong đất liền. Nhiều người ở Vạn Ninh đến khai thác Điệp Sơn để nuôi tôm hùm, tôm sếu (một loại tôm hùm ngắn càng).

         Hòn Đại Dư tức hòn Lớn, hay còn gọi là Ninh Đảo, dài hơn 15 km, rộng từ 2 km
          đến 6 km, chận ngang cửa Vạn. Hòn Lớn là một ngọn núi cao 575 m, che gió
          mùa Đông Bắc (gió Bấc) cho vùng Vạn Giã, nhưng không che được gió cho
          vùng Tu Bông. Mặt Tây núi tương đối kín gió nên vào mùa mưa dân đảo phát
          rẫy gần tới đỉnh núi để trồng ngô khoai bí mướp. Ngoài ra dân đảo cũng
          thường săn nai và heo rừng. Đưa bầy chó 5, 7 con lên núi, chó đánh được mùi
          nai sẽ theo dấu nai, nai bị bao vây và đuổi dồn xuống chân núi, chạy một hồi
          là thoát ra bãi biển, nếu không nhào ra biển thì bị chó cắn, còn nhào ra thì bị
          dân đảo dùng ghe thuyền chận bắt. Chung quanh Hòn Lớn có nhiều hòn đảo
           nhỏ giống như bầy gà con chạy chung quanh gà mẹ.

          Ngoài khơi bãi Cát Thắm có Hòn Đôi, Hòn Trâu Nằm...

          Hòn Nhọn

         Hòn Mỹ Giang ở phía Đông bán đảo Phước Hà Sơn, trước mặt có 2 đảo nhỏ là
          hòn Thẹo, hòn Khô, ngoài xa có hòn Đỏ, hòn Cứt Chim, hòn Hỏa, hòn Sẹo.

         Hòn Đỏ (còn gọi là Hòn Hèo) cao 136 m thuộc hải phận Ninh Hòa. Trên đảo
          theo triền núi nghiêng nghiêng xuống mé biển đi về hướng Tây chừng 100 m
          có một cái hang nhỏ gọi là Hang Lỗ Lườn. Gần đó có Miếu Lỗ Lườn là một di
          tích lâu đời do ngư dân tạo lập để thờ một vị Nữ Thần không rõ danh hiệu.
          
          Hòn Chà Là (còn gọi là Trà Là), cao 192 m, bên cạnh có hòn Hổ, hòn Rồng, là
           ba hòn đảo yến nằm ngoài khơi, về hướng Đông của xã Ninh Vân, thuộc hải
           phận Ninh Hòa. 
 

Khánh Hòa có 8 hòn đảo yến, riêng hòn Ngoại thu hoạch cao nhất với 6.000 tổ mỗi mùa, kế đến là hòn Nội (2 hòn này thuộc hải phận Cam Ranh). Các hòn đảo yến có nhiều hang hóc ăn sâu vào lòng núi, hay chạy dài như những hành lang, vách đá bị sóng gió mài cọ lâu ngày trơn láng như gương, chim yến bám vào những nơi cao ráo thoáng mát để làm tổ. Tổ yến bám chặt vào vách hang, vòm hang, miệng tổ có 2 chân như 2 cái mấu nhỏ để treo tổ yến lên, ngửa mặt trông lên sẽ thấy từng điểm trăng trắng như sao trên trời trong một đêm sương.

Tổ yến nặng từ 8 đến 10 g. Tổ có màu sáng đủ 2 chân không dính nhiều lông chim, tạp chất, gọi là yến quang, hay bạch yến. Tổ có màu sẫm hơn chỉ có 1 chân gọi là yến thiên. Tổ nhỏ hơn chỉ bằng 2 ngón tay gọi là yến bài. Tổ pha nhiều tạp chất gọi là yến địa. Tổ yến hay yến sào, do chất nhựa, dãi trong cổ họng chim khạc ra.

Yến ở Khánh Hòa hầu hết là yến tía, yến vàng rất ít. Chim yến bắt đầu làm tổ từ tháng Chạp Â.L. nhưng đến cuối tháng Hai Â.L mới làm tổ xong để chuẩn bị đẻ, nhưng người ta sẽ đến lấy tổ trước khi yến đẻ. Độ năm hôm sau yến làm lại tổ khác cũng tại chỗ cũ, tổ thứ hai này người ta để yên cho yến đẻ để khỏi bị tuyệt giống, và khi chim con biết bay, người ta mới đến thu tổ yến. Chim yến đẻ trứng sau 25 ngày thì nở, sau 75 ngày chim con biết bay, đó là thời gian thu hoạch đợt hai. Tổ yến đợt đầu mới làm gọi là mao yến, có lẫn lộn nhiều lông màu tro đen. Khi chim yến nhả dãi làm tổ nếu có lẫn máu thì tổ sẽ có những sợi màu huyết đỏ nâu, gọi là yến huyết, loại quý hiếm và đắt tiền nhất. Người ta phân loại tổ yến theo màu sắc:

1. Yến hồng hay yến huyết giá độ 3.000 USD/1kg.

2. Yến quang hay còn gọi là bạch yến.

3. Yến thiên màu vàng.

4. Yến bài, loại tổ đang làm lở dở.

5. Yến tinh chế làm lại.

6. Yến địa có màu xám.


  Yến sào đại bổ, bồi dưỡng sức khỏe, bổ huyết chân khí, giải độc, tráng dương bổ thận, làm chậm quá trình lão hóa của hệ thần kinh. Ngày xưa nó được dùng trong các buổi yến tiệc sang trọng của hàng vua chúa quan lại, phú thương... là báu vật để triều cống... được xếp hàng đầu trong bát bửu: Yến sào, hải sâm, bào ngư, hầu lớn, gân chân hưu nai, ốc cứu khổng , da tê giác, bàn chân gấu.

  Thành phần hóa học của tổ yến gồm: 50% protit; 30,55% glucit; 6,19 chất tro (phospho, sắt, kali,... ).

  Lấy tổ yến rất công phu, phải làm giàn tre để leo, hoặc dùng dây thừng để đu. Thường do các người thợ chuyên nghiệp cha truyền con nối đảm trách, họ sống ven biển xóm Bóng, xóm Cồn, Chụt, Cầu Đá, Bình Tân...

  Tổ yến đóng ở những nơi rất lắt léo, có chỗ ở độ cao 100 m cách mặt biển trên các vách đá cheo leo, thẳng đứng, hay trong các hang, có hang chỉ vào được lúc thủy triều xuống, có hang chỉ vào lọt một em bé, hay nhỏ hơn.

  Chim yến (khác với chim én) có tên là hải yến, huyền điểu, du hà ru điểu (chim bay trên sóng nước), yến oa, yến thái, quang yến, kim ty yến, tên khoa học là Collocalia sp thuộc họ Apodidae (vũ yến). Chim yến mình nhỏ thân dài từ 9 đến 10cm, cánh dài, nhọn, đuôi ngắn, mỏ cong, lông bụng và lưng xám, lông cánh và đuôi đen huyền, nặng từ 7 đến 10 g, con cái to hơn con đực, ngón chân có màng, thường bơi lội hay bay lướt trên mặt nước, ăn muỗi, cánh kiến, mối, rầy... Chim Yến thích sống nơi hiểm hóc, ở các mũi đá lởm chởm dựng đứng, phía dưới là vịnh nước đen sâu đầy đá ngầm trên các hòn đảo xa xôi ngoài khơi.

  Yến sào là tài sản quý giá của nước ta, đã được khai thác từ thời Lê Mạc và phát triển mạnh mẽ trong thời Trịnh Nguyễn ở Đàng Trong. 
 

Theo tác giả Huỳnh Tấn Đức, Khánh Hòa là nơi có lượng yến sào nhiều nhất trong nước, yến sào Việt Nam có giá trị cao hơn các nước khác, "được liệt vào loại tổ King Nets (Yến Vua) với sắc thái trắng và thơm."

Yến sào thơm ngọt tình quê
Sóng sâu đá tạc lời thề nước non

                                (Quách Tấn) 
Hòn Chà Là, hòn Hổ, hòn Rồng quả là 3 hòn đảo yến rất quý của xứ Ninh.

Từ đó đi vào sẽ gặp các hòn:

             Hòn Đụng Chóp Vung

             Hòn Bạc, đứng ở đây nhìn thấy rõ nha Trang.

Trong VỊNH NHA PHU có:

- Hòn Thị Sơn, gọi tắt là hòn Thị, một hòn đảo lớn, phía Đông có bán đảo Phước Hà Sơn che, phía Tây có nhiều đảo nhỏ đứng chầu như hòn Nứa, hòn Lăng, hòn Rớ, hòn Sấm, hòn Rêu, hòn Trồng. Đặt tên hòn Thị vì xưa kia trên đảo có nhiều cây thị. Hòn Thị chu vi 6.750 m, cao 212 m, cách bờ khoảng 4 km. Trên đảo có nước ngọt, có đất canh tác, có một làng ngư phủ tên Tân Long nhưng nay đã dời đi hết. Hiện còn nhiều di tích lịch sử như đình miếu thờ liệt sĩ Tây Sơn và các nghĩa quân Cần Vương, miếu thờ Nữ Thần Thiên Y A Na, miếu thờ Thần Nam Hải (Thần Cá Voi), và nhiều cổ tháp trên 200 năm vẫn còn nguyên vẹn. Ngày nay Hòn Thị là một Trung tâm Du lịch, trên đảo có nuôi hươu, nai, đà điểu thả tự do và một bầy cá sấu cho du khách đến xem.

Các nhà phong thủy cho rằng Hòn Thị có địa cuộc phát đạt tốt lành vì bên hữu có hòn Bạch Hổ, bên tả có hòn Thanh Long đứng chầu.

Theo tác giả Hoàng Lan, "Hòn Thị ngày xưa là vị trí trung tâm phòng tuyến Ngũ Đài Sơn của Nguyễn Huệ".

        Hòn Cóc: gần Hòn Thị, là hòn đảo đẹp nhất trong vịnh Nha Phu, tuy nhỏ nhưng
         dân cư trù mật. Mỗi lần đi xe hơi gần đến đèo Rọ Tượng nhìn về phía biển sẽ
         thấy một hòn đảo nhỏ chi chít những ngôi nhà ngói đỏ, xa trông xinh xắn như
         một hòn non bộ trong hồ bán nguyệt, cảnh trí thơ mộng vô cùng!

       Hòn Lao còn gọi là Đảo Khỉ vì có bầy khỉ sống hoang trên đảo, do trước đây
        Công Ty 18/4 nuôi để bán cho Liên Sô làm vật thí nghiệm gồm các giống khỉ
        đuôi dài, khỉ cụt đuôi, khỉ lông vàng, khỉ đỏ mặt, khỉ sư tử, nhưng khi Liên Sô
        sụp đổ việc xuất khẩu bị ngưng nên mới chuyển qua kinh doanh bán vé cho du
        khách đến xem và thưởng thức các món ăn lạ về khỉ.

Theo tác giả Hoàng Lan, từ bến tàu Cát Lợi cách Nha Trang 15 km, tàu chở du khách đến một vùng biển lặng có nhiều hòn đảo lớn nhỏ nhấp nhô, Hòn Lao giống như mũi lao, rộng 35.000 m2, cao 42 m, là nơi duy nhất còn sót lại giếng nước của thủy quân Tây Sơn. Năm 1788 quân Tây Sơn xây dựng căn cứ thủy quân kiên cố trên đảo này. Đến Hòn Lao, du khách nghỉ chân trong những căn nhà đậm nét quê hương núp bóng dưới những rặng dừa bạt ngàn, xem khỉ làm trò, nhìn voi làm xiếc, nếu không muốn cởi voi hay ngựa đi một vòng quanh đảo.

Trong ngôn ngữ Việt Nam chữ "nước" ghép với chữ "non", hay với chữ "đất" có ý nghĩa rộng lớn, bao trùm, thiêng liêng, quan hệ đến tổ quốc, dân tộc như : "nước non, đất nước"

Nước là sự sống. Một hành tinh không có nước là một hành tinh chết, con người không có nước không tồn tại. Trong ngủ hành có nước. Bức tranh vẽ bằng mực Tàu gọi là tranh thủy mạc. Những danh từ: biển nước, sông nước, gợi lên một hình ảnh thơ mộng, dịu dàng, êm ả, mềm mại, bao la, bát ngát và đầy nữ tính:

Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Từ đó chúng ta hiểu vì sao xứ Ninh đẹp, thơ mộng, hiền hòa.

Tình yêu quê hương đất nước thường bắt đầu từ tình yêu núi, yêu sông, yêu biển, yêu đồng, yêu cọng rau tấc đất, yêu mái ấm gia đình, yêu lũy tre bao bọc, yêu tình làng nghĩa xóm... 

Tác giả Nguyễn Đình Tư đã sưu tầm nhiều thơ của giới ghe bàu ngày xưa, tôi xin trích lại một đoạn để chúng ta thấy tình yêu quê hương của những người suốt đời lênh đênh trên sóng nước. Thiết tưởng nếu không yêu biển, yêu bờ, yêu đảo gắn bó sâu đậm, thì không thể có những câu thơ đầy dẫy những tên biển, tên bờ, tên đảo như vậy:

Nũi Nạy có hòn Đá Bia
Bãi Môn dựa kề trước vũng Ô Rô
Ô Rô núi tấn như đồ
Vừa nồm vừa bấc biết xô phương nào?

Hòn Nưa không thấp không cao
Ngước mắt trông vào bãi Võ sóng ngang
Hòn Gầm nghe sóng bổ vang
Đi khỏi Cát Thắm thì sang Đồi Mồi

Anh em thề thốt nhau ôi
Chạy khỏi Đồi Mồi sẽ đến Bà Gia
Ngó vô bãi cát trường sa
Thấy chỗ đăng lưới thật là thôn dân

Xa cừ nay đã vừa gần
Chạy khỏi Cửa Bé lánh thân Trâu Nằm
Cửa Đò Hòn Khói xa tăm
Kinh ngoài Hòn Đỏ kinh trong bãi Trầy

Không ghé thì lại chạy ngay
Đi hết nửa ngày Mũi Cỏ, Cây Sung
Chà Là, Hố, Đụng Chóp Vung
Kinh ngoài Hòn Bạc kinh trong Ninh Hòa.

           VINH HỒ
(Orlando, Tháng 8/2004)

http://www.ninh-hoa.com/Dia_Ly-XuNinh-BienVaHaiDao-3.htm

No comments:

Post a Comment