Thursday, May 21, 2015

Văn phong của mái trường VNCH & văn phong của mái trường XHCN





Chú thích: Dưới đây là hai bài tự kÝ của hai tác giả cùng một lứa tuổi, nhưng được sinh ra và được giáo dục ở hai thể chế chính trị khác nhau. Lisa Trần sinh ra ở miền Nam và được giáo dục dưới mái trường VNCH cho đến ngày 30/4/1975.  Trong khi đó thì Trần Khải Thanh Thủy sinh ra và lớn lên ở miền Bắc, "được" giáo dục dưới mái trường XNCH.  Cho nên lời ăn tiếng nói (câu văn) của XHCN quá khác biệt với cách nói (hay cách viết) của VNCH.

***
Tháng Tư 2015 & Chiến Hạm USS Midway _
T/g Lisa Trần

Tác giả đến Hoa Kỳ năm 1975, khi mới 14 tuổi. Lisa hiện là Marketing Director cho Công ty Quốc Việt và tham gia sinh hoạt với Câu lạc bộ Tình Nghệ Sĩ khoảng một năm nay. Bài viết sau đây ghi lại kỷ niệm về chuyến đi dự chương trình Quốc Hận và Kỷ Niệm 40 Năm Chiến Dịch Cơn Gió Lốc được tổ chức trên chiến hạm USS Midway vào dịp cuối tháng Tư 2015.

* * *

Tháng Tư cờ Vàng trên chiến hạm USS Midway.

Sau nhiều ngày sửa soạn và chờ đợi, sáng Chủ Nhật 26 tháng 5, 2015, chúng tôi đã lên đường đi San Diego, dự lễ tưởng niệm bốn mươi năm ngày 30 tháng 4, trên chiến Hạm USS Midway.


Lãnh phần lo cà phê cho đoàn, tôi dậy từ 4 giờ rưỡi sáng. Tính nhẩm số lượng anh chị em trong đoàn, thấy cần 20 ly lạnh và 10 ly nóng, tôi lọc cà phê bằng cái vợt lớn, mùi cà phê thơm phức. Rót cà phê ra ly, tôi nghĩ đến từng người anh, người chị, người em thật dễ thương trong Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ (CLB TNS) của tôi.

Hơn sáu giờ sáng, tôi đến điểm hẹn trước Saigon Performing Arts Center, trên đường Brookhurst và Edinger.

Đến nơi, thấy các chị Thanh Thanh, Quỳnh Giao đang ngồi trong xe chơ sẵn. Chúng tôi tạm thời dùng bục xi măng của cột đèn làm bàn bày ra: nào cà phê sữa đá, cà phê nóng, creamer thượng thặng, đường, ống hút, đến nắp đậy, napkins, v.v. Y như trong một nhà hàng.

Vừa lúc đó, anh Phạm Hoàng và Thuỳ Châu xách tới 3-4 bịch bánh mì ổ. Rồi xe của anh chị Hội Trưởng Cao Minh Hưng cũng vừa mới tới.

Sau khi nhận những ổ bánh mì do Thủ Quỹ Phạm Hoàng phân phối, xong màn cà phê bên trụ đèn, chúng tôi lên xe khởi hành. Vì chỗ parking đó không cho đậu quá 3 giờ đồng hồ, nên các anh chị em phải chạy về khu nhà chị Thanh Thanh gần đó đậu xe để cùng đi car pool với nhau theo sắp xếp từ mấy ngày trước. Xe chạy được một lúc, nhạc trong CD với tiếng hát của anh Trần Hào Hiệp, một ca sĩ trong nhóm được bật lên. Sau đó là phần trình bày nhạc sống tại chỗ của các ca nghệ sĩ trong xe.

Tôi không biết những xe khác ra sao. Còn "xe đò" của tôi thì phải nói nguyên môt lò...ca sĩ: Nào là Tân Hương với giọng khàn khàn, đục đục (giọng Rock & Roll)! Rồi đến Thanh Thanh với những bản nhạc được yêu cầu bởi MC/Thi sĩ Quỳnh Giao, những bản nhạc "vàng" rất hay của thời Việt Nam Cộng Hòa vàng son. Kế tiếp, anh Dương Viết Đang với những nhạc phẩm của các anh Không Quân như "Một Chuyến Bay Đêm".

Đôi song ca Thanh Thanh và Dương Viết Đang tiếp nối với những bài AVT quá hay, xuất sắc, ngay cả đoạn nói giọng Huế, 2 người cũng rất ăn tiền. Đề nghị: Anh Cao Minh Hưng thành lập ban AVT Tê En Ét Sờ (TNS), với 2 con chim đầu đàn: 1 đại bàng, 1 se sẻ, là Dương Viết Đang và Thanh Thanh.


Màn múa và hợp ca "Hẹn Ngày Về" (nhạc và lời: Cao Minh Hưng & Hạnh Cư, trình diễn: BVN - CLB TNS).

Hơn một tiếng đồng hồ sau, chúng tôi vào tới parking lot của khu Chiến Hạm USS Midway.

Chiếc tàu USS Midway thật hùng dũng, hiên ngang, hiện ra trước mắt tôi. Ôi! Tôi không ngờ nó vĩ đại như thế. Đây là con tàu đã chuyên chở hàng ngàn người với biết bao đau khổ, xót xa, mất mát, hãi hùng của 30 tháng 4 năm 75, để đến bến bờ tự do. Nhìn con tàu cao sừng sửng, tôi thật hết sức xúc động.

Nước biển làm không khí dịu lại, khi nắng đang bắt đầu lên. Man mác những làn gió nhe nhẹ. Hứa hẹn một ngày tuyệt đẹp.

Chúng tôi chuẩn bị bước lên thang tàu để lên tầng trên cùng, nơi nghi lễ tưởng niệm sẽ diễn ra.

Theo như một nhân viên trên tàu cho biết, chiến hạm này có 2,000 phòng! Anh Đạt và tôi thắc mắc, không biết trên tàu này có phòng tập trận không!

Chúng tôi đem hành lý xuống boong tàu, vào một phòng dành cho tất cả các diễn viên nữ, bên cạnh là phòng cho nam. Nơi đây, một số đông các em đang sửa soạn quần áo trình diễn. Mọi người cùng náo nức tham gia góp phần trong ngày tưởng niệm này.

Anh Alan Vo Ford với nụ cười chào đón chúng tôi và nhắn nhủ cần gì cho anh hay.

Tôi cất hành lý xong, đi lên trên sân tàu chuẩn bị buổi trình diễn.

Những hàng ghế chạy dài bề ngang, bề dọc sắp trước sân khấu thật đẹp mắt. Nơi đây đã có số đông đồng bào và cựu quân nhân của các binh chủng đã có mặt. Phải nói đúng là ngày Đại Lễ. Moi người chào đón nhau, các nhân viên người Mỹ, có thể là các chiến binh, các cựu chiến binh một thời gắn bó với Việt Nam, chào đón đồng bào thật thân tình. Hình như họ muốn chia sẻ ngày kỉ niệm đau thương này với chúng tôi.

Trong khi chờ đợi tới giờ trình diễn, tôi và người bạn dễ thương Mai Chi cùng với anh Đinh Đắc đi tham quan những chiếc máy bay. Sân bay trên tàu rộng mênh mông, có cả chục máy bay chiến đang đậu. Anh phó nhòm Đinh Đắc đã chụp cho chúng tôi một số hình ảnh, mặc áo bà ba, mang kiếng mat, cầm nón, ngồi trên máy bay.

Chúng tôi trở về sân khấu. Tội nghiệp người đẹp Thuỳ Châu, vì mỗi khi ra nắng, là bị sun burnt, đỏ và rát da. Nhưng hôm nay, Thuỳ Châu đã hy sinh, để tham dự ngày trọng đại này để giữ cho ban múa chúng tôi không bị mất đi đội hình, nhất là hình chữ S của nón khi đưa ra được trọn vẹn chữ S theo bản đồ Việt Nam.

Chương trình bắt đầu. Ban Hợp Ca CLB Tình Nghệ Sĩ chuẩn bị chào cờ trên chiến hạm USS Midway. Chúng tôi đứng trên bục sân khấu thật trang nghiêm để chuẩn bị hát Quốc Ca Việt Nam Cộng Hoà. Tôi nhìn xuống thấy khung cảnh đầy xúc động. Trong rừng người này, biết bao người 40 năm trước đã được tàu USS Midway vớt lên, đem về quê hương thứ hai này.

Bài Quốc Ca bắt đầu: "Này Công Dân ơi! Đứng lên đáp lời sông núi. Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống. Vì tương lai Quốc Dân, cùng xông pha khói tên….” Chúng tôi cất tiếng hát...


Màn múa và hợp ca "Hẹn Ngày Về" (nhạc và lời: Cao Minh Hưng & Hạnh Cư, trình diễn: BVN - CLB TNS).

Sau màn chào cờ, chúng tôi xuống để chuẩn bị cho bài hợp ca "Hẹn Ngày Về", với màn múa nón đi kèm theo. Hôm trước, chúng tôi đã có dịp trình diễn bài này trong chương trình trực tiếp thâu hình của đài VNA-TV 57.3. Lúc đó, má tôi ở nhà coi qua TV, má nói "Đẹp quá con ơi, và hay quá. Nhẹ nhàng, truyền cảm mà ý nghĩa." Tôi nói " Má ơi, Hội trưởng của con với anh Trưởng ban văn nghệ đấy!"

Sau một số các tiết mục, chúng tôi bắt đầu bước lên sân khấu để trình diễn ca khúc "Hẹn Ngày Về". Các anh chị trong ban hợp ca đi ra trước. Các chị em với những tà áo dài hình chữ S thật đẹp. Trời thương cho chị Quỳnh Giao và các chị em một sức khoẻ phải nói là lạ thường. Giữa trời nắng chang chang, mà phải dậy sớm nữa, thế mà khuôn mặt người nào cũng tươi tắn, và sẵn sàng...chiến đấu!

Thương nhất các anh trong ban hợp ca, mỗi người cầm một chiếc ghế đem theo để đứng lên hàng sau cho được đồng đều. Thế mới biết, Tình Nghệ Sĩ vô cùng Nghệ Sĩ, sẵn sàng mọi thứ, mọi dụng cụ, trong mọi tình huống để cho bản nhạc, lời ca phải xứng đáng, hoàn hảo...

Sau khi ban hợp ca đi lên, tiếp theo là các chị trong chiếc áo bà ba. Nắng hôm nay thật đẹp, chan hoà vào với những chiếc áo bà ba nền đen, được tô điểm những bông hoa nhiều màu sắc. Trên tay mỗi người trong nhóm múa cầm theo 2 chiếc nón lá. Chúng tôi, 5 cô trong chiếc áo bà ba đi lên, đứng vào hàng. Theo sau áo bà ba, là 2 chị trong chiếc áo dài trắng nữ sinh. Màn múa của chúng tôi thêm phần tha thướt là nhờ 2 người mẫu với áo dài trắng nữ sinh này.

Khi nhạc bắt đầu trổi lên, tôi thấy như mình đang về bên quê mẹ, trong vòng tay âu yếm của Mẹ Việt Nam, về với quê hương tôi, bạn bè tôi, các thầy cô của tôi của thời thơ ấu... Tôi thấy các anh đang đưa tay như nhìn về quê hương mến yêu của thời trước năm 1975. với hình ảnh lúa toả ngát hương ấp ủ tình quê... Những con đò bên dòng sông hiền hoà...Nghe đâu đây tiếng hát dân ca.....

Rồi tất cả chúng tôi cùng đồng thanh hát "Việt Nam ơi, bao nhiêu năm ta sống xa nhà..." Vâng, chúng tôi đã xa, đã mất hết những gì thân yêu nhất của thời thơ ấu, của Sài gòn thương yêu... Tôi thấy trong lòng mình thổn thức.

Rồi một rừng cờ dưới khán giả được giơ lên cao, bay phất phới, khi chúng tôi hát tới đoạn: "Ta sẽ về trên quê hương, trong mùa Xuân rợp bóng cờ vàng..." Trên sân khấu, các anh Bình Trương, Cao Minh Hưng, Dương Viết Đang, Ngọc Lân, đưa cao ngọn cờ lên, cờ bay phất phới: Việt Nam ơi, Việt Nam ơi, hẹn sẽ trở về....

Sau phần nghi lễ của chương trình với một số bài phát biểu rất cảm động của các diễn giả nhắc lại về những kỷ niệm cách đây 40 năm đã xảy ra trên chiến hạm này, chúng tôi trở lại sân khấu để kết thúc chương trình bằng bài hùng ca "Thắp Sáng Việt Nam" của hai nhạc sĩ Anh Bằng và Cao Minh Hưng. Trong khung cảnh gió biển lồng lộng, những ngọn đuốc được giơ lên cao như muốn cùng nhau chuyển ngọn lửa đấu tranh cho quê hương Việt Nam sớm có ngày được Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền.

"Đốt nến lên thắp sáng Việt Nam tiến theo nhân quyền. Một nắm tay, muôn vạn nắm tay vượt như giông bão quét quân đê hèn". Đó cũng chính là ước mơ và niềm tin của tất cả mọi người Việt Nam chúng ta.

Niềm tin ấy đã được thể hiện đầy đủ qua suốt chương trình kỷ niệm quốc hận Tháng Tư trên chiến hạm USS Midway, một ngày Tháng Tư.

Viết trong tháng Tư đen 2015

Lisa Trần

Source: http://vietbao.com/a237897/thang-tu-2015-chien-ham-uss-midway

###########################################################################################################

Đôi nét về Hà Nội hôm nay
 Tác giả: Trần Khải Thanh Thủy


Vạ vật khiếu kiện là cảnh thường thấy ở HN

Vạ vật khiếu kiện là cảnh thường thấy ở HN

Bạn tôi, một người phụ nữ sinh năm 1959, đầu đời vốn gặp may, đúng như câu nói của ông bà, tiên tổ: “Tuổi Hợi ngồi đợi mà xơi”, xơi hết giải thưởng này, các tên tuổi hào hoa trong làng văn, làng báo, “xơi” tuốt luốt. Nghĩa là ai cũng có thể cặp kè, đàm đạo ngang bằng phải lứa được, nhưng rồi từ sau khi nước nhà đổi mới tư duy, thời đại đồ đểu lên ngôi, cái tính ngang bằng phải lứa bắt đầu được chú ý. Không những cơ quan không cho “ngồi đợi mà xơi ” mà phán nữa(dù đã ở cấp phó giám đốc) mà chồng góp ý mãi không được cũng phải bỏ, giờ về già thành cô đơn. Lâu lắm mới gặp lại, chị ngâm nga:

Người tài tâm đau nỗi buồn nhân thế,
Kẻ bất lương vui thác loạn cuồng say.

- Ồ đúng thật, một kẻ văn dốt võ dát như tôi, như bừng ngộ trước điều đơn giản đó.

Xa nước 17 năm trời, trở về thấy Hà Nội khác hẳn, không còn cảnh phố nhỏ nhà thưa, phố xá yên bình thanh tịnh nữa mà thác loạn, cuồng say, bụi bậm chật chội, ô nhiễm kinh hoàng. Chị nhận định : Một Hà Nội đang bị đàn áp, tước bỏ, nhấn chìm…

Ngồi trong căn phòng nhỏ, tôi nhớ về bà hàng xóm của cả hai đứa. Bà Ngà, quý phái từ cái tên, đến nước da, dáng điệu thanh thoát trở đi. Cả gia đình bà giác ngộ cách mạng đến mức, tuần lễ vàng có bao nhiêu cây vàng tích cóp được đều đem ủng hộ kháng chiến. Chưa đủ khi đám cán bộ tiếp quản thủ đô ngỏ ý mượn căn nhà rộng thênh thang của ông bà để lại cũng gật luôn. Từ muợn thành chiếm chỉ trong vòng mấy tháng, gia đình bà đi đòi rồi đi kiện, đến hết đời cũng không được, đành ủy thác cho bà đòi tiếp, kiện tiếp, không biết bây giờ đã đòi được chưa?

Thấy tôi băn khoăn, chị bảo:

- Ôi bà ấy vừa là nạn nhân vừa là nhân chứng của thời kỳ đểu giả từ trong trứng của đảng đấy, đòi sao được mà đòi.

Chợt chị cười hì hị, mắt như láng nước, bảo:

- Buồn cười lắm. Bây giờ, xem ti-vi, thấy lãnh đạo rao giảng này nọ là bà cụ lại lên cơn cuồng nộ, mặt đỏ bừng, mắt long lanh như người bốc hỏa và lại chửi tục. Cứ lôi hết tên ông hồ, trường chinh, hạ bá Cang, Lê Duẩn, rồi lại đến đám cán bộ thời nay chửi. Hình như Bà cụ không biết làm gì hơn là chửi tục mày ạ.

- Cũng có thể, tôi đoán – Bởi đó là vũ khí cuối cùng của người dân bất lực.. Nếu không một người sinh vào cuối thập kỷ 30 như bà cụ, nổi tiếng là thanh lịch, đài các, làm sao lại có thể chửi tục như những người dân quê mất đất được ?

- Ôi, chị gạt đi : – Chuyện bị cướp nhà, mượn rồi không trả ở cái đất nước này…nhiều lắm mày ơi. Biết chửi như bà cụ đó đỡ thần kinh đấy. Cứ giữ mãi “công dung ngôn hạnh” một thời với bọn cướp ngày bây giờ có mà đi xuống Văn Điển từ lâu rồi.

- Ờ biết đâu đó là sự thật, tôi a dua: -Em về đợt này, cứ nghĩ bà cụ không xanh cỏ cũng …chống gậy khươ vào trời đêm rồi, sao còn chửi được và nhờ chửi mà đầu óc thanh thoát, nhẹ bẫng. Nếu không lại mắc bệnh lẩn thẩn vì trầm uất như mẹ em và bao nhiêu người mẹ Việt Nam khác trong thời đảng trị.

- Nói túm lại, chị khẳng định: Từ một học thuyết sai lầm mà đẻ ra những con người sai lầm, những con người do…vô lý sinh ra, lại lên lãnh đạo đất nước nên 90 triệu người Việt Nam lãnh đủ: Nhân dân đau khổ và Đất nước phát triển dị dạng….

Không khí chìm đi khi chị buông lời ai điếu:

- Đau buồn thay, dân tộc này đã từng có bốn ngàn năm văn hiến!

Tiếng chuông điện thoại đổ dồn, biết tôi từ trời tây về, đám bạn gọi điện thoại tìm đến, chị nhấc điện thoại bảo:

- Tưởng ai chứ bà Hà này thì em tha hồ hỏi về bà cụ Ngà nhé. Có khi chị ấy còn réo rắt cả băng bà cụ chửi mà cả xóm đã thuộc làu cho mà nghe.

-Thế bây giờ bà cụ ở đâu hả chị?

Như hiểu nỗi lòng ưu tư sâu lắng của tôi, chị lặng lẽ thở dài

- Còn ở đâu được nữa, 76 tuổi đầu, đi kiện từ hồi 61 đỉnh cao muôn trượng đến bây giờ ngót nửa thế kỷ , mải kiện đến mức bị chính quyền trả thù, mất cả chồng, cả con, về già chỉ còn nước chui vào chùa ở nhờ chứ dâu nào, rể nào chịu được những “bài ca không quên” của bà ấy với nhà nước độc tài này.

Tự nhiên câu chuyện của bà cụ gợi lại cho tôi nhiều kỷ niệm buồn phiền qúa, nơi đất nước mặt trời lặn này, quá nhiều cuộc đời đã bị phí hoài! Quá nhiều con người bị đày đọa đến mất hết cả nhân tính, mầm thiện! Nơi xứ người lạnh lẽo, bên chồng con, nhiều khi tôi đã từng suy nghĩ: “ Giữa kết án tử hình họ với đày đọa họ sống trong địa ngục trần gian như thế, cách nào nhân đạo hơn”? Trớ trêu là tôi lại nhớ mấy câu thơ của Tố Hữu mà thế hệ chúng tôi ai cũng phải học thuộc lòng:

“Đồng bào ơi anh chị em ơi
Hỡi lương tâm tất cả loài người
Hãy nghe tiếng của ngàn người bị giết
Không sống nữa nhưng không chịu chết
Ngàn lời ca bay khắp nhân gian
Thù muôn đời muôn kiếp không tan!”

Không biết đến bao giờ những tiếng kêu của họ mới được cất lên trong không khí của hòa bình , tự do? Những mối thù đến kiếp nào mới được tan hòa, giải tỏa?

Chị Hà đến, đem theo một bọc cốm bọc trong lá sen và một nải chuối chín vàng ươm, thơm phức, vừa ăn chúng tôi vừa nhắc lại chuyện bà Ngà và bao nhiêu kỷ niệm liên quan đến Hà Nội. Biết tôi buồn vì Hà Nội đã thay đổi theo chiều ngược lại, cả văn hóa, tâm linh cũng như chiều sâu tâm tưởng, chị bảo:
- Những nét đặc trưng của Hà nội, từ sau 1954 đến nay đã phai mờ rồi, từ cái ngày mà “ 5 cửa ô đón mừng đoàn quân tiến vào, Hà Nội vang tiếng Quân ca” ấy. Đâu phải đến giờ mới mất , thôi thì đành “Thành kính phân ưu ” thôi em ạ. Cộng sản mà, chỉ có phá và cướp thôi .

Tôi buồn rũ rượi, khi nhớ lại kỷ niệm hồi trẻ, trả lời câu hỏi trong một đáp án lịch sử : “ Hà Nội có mấy cửa ô” ? Tất nhiên, tôi trả lời là 5 theo đáp án đúng và được điểm cao, gồm Ô Quan Chưởng, Ô Đông Mác, Ô Chợ Dừa, Ô Cầu Dền và Ô Cầu Giấy. Vậy mà bố tôi – bạn bè với nhà văn Băng Sơn -một người được coi là nhà Hà Nội học, từng đạp xe đến tận ngóc ngách Hà Nội để xem phố nào dài nhất, hoặc sâu nhất, có gì đặc biệt nhất, làm nên diện mạo Hà Nội, lại cả cười mà rằng :

- Chết chết, bóp méo lịch sử như thế này thì chết. Hà Nội sao lại có 5 cửa ô được?

Vốn trẻ người non dạ, Tôi cố kiết cãi:

- Thì 5 cửa ô ứng với ngôi sao vàng 5 cánh

Bố tôi càng sững sờ:

- Trời, sao vàng có từ ngày đảng cộng sản lãnh đạo, cứ cho từ năm 1930 đi, còn cửa ô Hà Nội do lịch sử tạo thành, không lẽ có sau ngày thành lập đảng sao?

Rồi ông ngồi xuống hí hoáy viết đủ 21 tên cửa ô của Hà Nội cho tôi xem, lâu ngày qúa rồi, tôi chỉ còn nhớ mang máng 16 cái tên còn lại gồm: Ô Yên Hoa , Ô Yên Tĩnh , Ô Thạch Khối, Ô Phúc Lâm , Ô Thanh Hà ,Ô Trừng Thanh , Ô Mỹ Lộc , Ô Đông An , Ô Tây Luông , Ô Nhân Hòa, Ô Thanh Lãng ,Ô Yên Ninh , Ô Kim Hoa, Ô Thịnh Quang, Ô Thanh Bảo, Ô Thụy Chương .

Sở dĩ Hà Nội xưa có nhiều cửa ô đến thế vì thời đó đường giao thông nối Thăng Long với các nơi chủ yếu là đường sông, cho nên dọc sông Hồng có nhiều bến, phố xá đông đúc với nhiều hiệu buôn lớn của người Việt và người nước ngoài. Vì thế người ta phải mở nhiều cửa ô để việc đi lại được dễ dàng.
Một điều đặc biệt là phần lớn các cửa ô đều thông ra sông Hồng, được coi như các cửa thành bao bọc quanh kinh thành. Vì vậy ban ngày hễ ai ra vào đều phải qua cửa ô. Ban đêm, có tuần phiên canh gác, kiểm soát nghiêm ngặt

Vô tình nhắc tới câu “dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An” chị Hà – vốn con một nhà sử học kể về xuất xứ Tràng An cho tôi nghe:

- Thực tế ở nước ta, Tràng An là chỉ kinh đô Hoa Lư của nước Đại Cồ Việt. Và cái tên Tràng An là lấy theo kinh đô của nhà Hán nhưng không phải vì Đại Cồ Việt là thuộc quốc mà là từ cái chí của Đinh Tiên Hoàng muốn sánh ngang bằng với Tống triều.

“Cồ Việt quốc đương Tống Khai Bảo
Hoa Lư đô thị Hán Tràng An”

(Nước Cồ Việt ngang hàng với nhà Tống đời Khai Bảo; 
Kinh đô Hoa Lư như Tràng An của nhà Hán).

Sau Lý Thái tổ dời đô về Đại La lại lấy tên Tràng An cho kinh đô mới. Vua Lý còn đem theo các địa danh đã có ở Hoa Lư (Tràng An cũ) về Đại La như Cầu Dền, Tràng Tiền, Một Cột…
Các tên này lại chuyển vào Huế khi nhà Nguyễn lấy Huế làm kinh đô.

Còn cố đô Hoa Lư được Lý Thái Tổ đặt là Phủ Tràng An. Sau vì sợ huý kỵ, nhầm lẫn mà gọi chệch thành Trường Yên. ( nhiều địa danh của cả nước (trừ kinh đô Huế) có chữ An từ thời nhà Nguyễn đều được đổi thành Yên như An Định thành Yên Định, An Nhân thành Yên Nhân, Tân An thành Tân Yên v.v)

- Hóa ra là vậy, đúng là gần người thông tỏ như soi gương cổ, hiển hiện từng đường nét, chi tiết, địa danh, vậy mà trở về lần này sau gần 20 năm biệt xứ, tôi lại phải “Thành kính phân ưu” ư?
Chuyện nọ, xọ chuyện kia, khi thực thể vật chất đã bắt đầu no đủ, nhường chỗ cho thực thể tinh thần và xã hội phát tiết ra ngoài, chị Hà bảo:

- Văn hóa là diện mạo của tinh thần, là chiều sâu của cốt cách cũng là tâm linh của bản sắc dân tộc. Lẽ ra chỉ cần tự hào và giữ vững tính trường tồn của văn hóa dân tộc là đủ rồi, đằng này người ta còn vẽ rắn thêm chân, “rặn” thêm bao nhiêu ý tưởng quái gở, biến văn hóa truyền thống thành thứ trang phục, bình phong, đại diện cho mưu đồ riêng tư của lãnh đạo. Mà đã là “trang phục”, “bình phong”, hoặc “mưu đồ”… tất phải nhào nặn, xoa véo, bóp tròn, bóp méo đến mức trở thành “siêu thời trang” quái gở, âu cũng là chuyện chẳng đặng đừng. Túi tham, một khi đã phình to hết cỡ, thì ngộ nhận cũng nuốt luôn, vô minh cũng nuốt luôn, cuối cùng nhào nặn thành một gã béo phị, người chả ra người, âm binh chả ra âm binh, một thứ hồn ma bóng quỉ mang hình hài nhân gian, miệng la :Phát huy truyền thống 4000 năm nhưng chân thì đạp, tay thì xô đổ.

Ngồi bên tôi mạnh dạn lạm bàn:

- Em thấy muốn giữ gìn bản sắc dân tộc, chỉ cần bỏ bớt chứ không cần thêm, cụ thể bỏ ý thức hệ, bỏ con người mới xã hội chủ nghĩa , bỏ các loại tính đảng, tính công an, đấu tranh giai cấp v.v và v.v để tập trung vào việc khôi phục lại đạo Phật nguyên thủy. Nghĩa là không đưa vào những tín ngưỡng khác dễ dẫn đến mê tín. Từ đạo Phật, cộng với tinh thần tiến bộ của các đạo khác để lấy đó làm nền tảng tinh thần, cốt cách…Văn hóa dân tộc sẽ từ từ lộ diện

Chị Thanh, nghe vậy chun mũi kêu to, đúng kiểu người Hà Nội bây giờ :

- Eo ui ! Bỏ bớt thứ gì, chứ đòi bỏ mấy thứ mà cô vừa chọn, coi chừng ngay ngày mai sẽ có người ném vài bịch văn hóa phân tươi vào trước cửa nhà rồi cho bọn nợ án đến gây sự, để công an hô hoán lên là mình đánh họ bị ngất thì…vào tù mọt gông đấy nhé. Tội cố tình gây thương… nhớ cho bạn bè, gia đình, chồng con không phải đùa đâu, kinh lắm …

Nhúm thêm một nắm cốm dẻo ( không biết có được tẩm hóa chất không) bỏ vào miệng, chị Hà bày tỏ:

- Bây giờ, bảo Hà Nội thanh lịch có khác gì khen gã trọc phú lịch sự đâu. Vì thanh lịch đâu chỉ đơn thuần là các dự án cải tạo thủ đô hoành tráng, cũng không phải chính trị hóa thanh lịch mà thành thanh lịch được . Sự thanh lịch hiện ra ở cốt cách văn hóa con người và để lại dấu ấn trong các công trình kiến trúc, lịch sử, vv…Công cuộc kỷ niệm 1000 năm Thăng Long hoành tráng vừa rồi, tốn hàng nghìn tỷ được vài tháng lại xuống cấp hết thì sự thanh lịch của người Hà Nội được khôi phục và tăng lên bao nhiêu? Hay lại lộ rõ sự tham lam của tầng lớp lãnh đạo Thành phố , lãnh đạo trung ương
- Tiền bạc mà không đi kèm với hiểu biết thì sự khôi phục chỉ còn là sự hào nhoáng giả tạo, sự tô vẽ rườm rà, đắp điếm cầu kỳ …vừa tổ chức kỷ niệm xong đã thành phế thải vì rút ruột , ăn bẩn rồi, tôi phụ họa.

- Ôi dào, chị Thanh mát mẻ: cứ ngu ngu lại tham, đã nhiều năm rồi quê hương tệ hại vô cùng , chán mớ đời.

Vốn học cao hiểu rộng, trăn trở với Hà Nội bao nhiêu năm nay rồi, chị Hà cự nự:

- Cho dù những sai lầm hôm nay sẽ được sửa chữa đi nữa thì phải mất bao nhiêu thời gian, sức lực ? Đặc biệt là lấp những những thiếu hụt, khiếm khiếm trong tâm hồn con người hay hàn gắn những vết thương có khi cả thế kỷ không chừng. Còn khôi phục được nền văn hiến cần mấy nghìn năm?
Đang nhấp nhổm ra về, câu hỏi của chị bắt vít tôi ngồi lại với những suy nghĩ nóng bỏng trong đầu : Ừ nhỉ bao nhiêu năm để có được nền văn hiến tiên rồng , nền văn hiến tích lũy từ thời hồng hoang nguyên thủy ăn lông ở lỗ, trải qua 18 đời vua hùng mới dựng tạo được, giờ chỉ vì thành tích công lao của đảng : bắt “40 thế kỷ cùng ra trận” , bàn tay đồng chí tàn sát đồng bào mình, con không được phép nhận mẹ cùng giai cấp công nông với mình,bắt mẹ phải nhảy giếng tự vẫn sau khi cắn lưỡi không chết… mà nền văn hiến ấy trong 84 năm tồn tại của đảng cộng sản đã hóa thành… Văn Điển. Thật đau lòng biết bao.

Chuông đồng hồ điểm 5 tiếng, điện thoại cũng réo rắt gọi, tôi bần thần đứng dạy, lòng nặng trĩu suy tư…

Xa Hà Nội 17 năm, nhưng dù sao cũng được sinh ra và lớn lên ở Hà Nội suốt quãng đời thơ ấu, học đại học, công tác, rồi đi du học và lấy chồng Ngoại quốc. Không hiểu sao tôi vẫn bảo thủ khi cho rằng Hà Nội chỉ đẹp nhờ vào những cái cũ kỹ, xưa xưa chứ không phải là lối sống hiện đại nhốn nháo, xô bồ tranh giành chộp dựt như bây giờ. Những người Hà Nội gốc có cách ứng xử với mọi người thực sự văn hóa, tinh tế và bặt thiệp. Tiếc rằng sau gần hai thập niên trở lại, những người đó gần như tuyệt chủng, thật đáng tiếc và cũng đáng sợ biết bao, bởi sự sang trọng không thể học được mà nó được di truyền theo văn hóa gia đình. Sự sang trọng hoàn toàn không phụ thuộc vào giàu sang, cũ mới…không biết hai chị có nghĩ như vậy không? Nhưng tôi tin, cùng là hàng xóm cũ, tuy cách nhau 5,7 tuổi nhưng vẫn cùng một lứa bên trời lận đận với nhau, chắc các chị cũng hoài cổ như tôi mà thôi.

Đưa chân tôi ra cửa, nhìn những hàng cây cổ thụ bị đốn chặt gần hết, chị Thanh bảo:

- Sắp tới Việt Nam sẽ không cần có di sản nào nữa. Tất cả là sự “hiện đại, hoành tráng”…hơn mười lần xưa rồi nhé. Hiện đại đến mức nhà thơ Nguyễn Việt Chiến phải viết : “Phố không cây, mây lẫn khói xăng chiều”.

Khẩu trang che kín miệng, để khỏi hít bụi đường , khói xăng , ngồi sau xe máy của ông bác họ đáng kính, tôi chợt nhớ tới câu thơ của nhà thơ Vũ đình Liên : “Những người muôn năm cũ, hồn bây giờ ở đâu” trong đó có ông bà nội ngoại, các bác ruột gần gặn với tôi một thời , sao tôi chỉ muốn khóc …

T.K.T.T

© Đàn Chim Việt

No comments:

Post a Comment